afb316a48b4288d4fb3101967d6af8c9.ppt
- Количество слайдов: 174
Lee Chu Keong SỞ HỮU TRÍ TUỆ
SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ ? Sở hữu Trí tuệ (STTT) là sự công nhận của xã hội đối với những nỗ lực về trí tuệ. Đó là sự độc quyền ban ra để ghi nhận sự đóng góp của các sáng tạo trí tuệ cho xã hội. Đó là một quyền sở hữu vô hình. Việc sử dụng SHTT của một đối tượng thứ ba không tước đoạt được quyền sở hữu của sở hữu chủ. Như vậy, quyền SHTT là quyền để hạn chế người khác sử dụng quyền này. Sự mở rộng quyền này tùy thuộc vào phạm vi quyền hạn quy định bởi pháp luật để hạn chế sử dụng quyền này. Phạm vi quyền hạn càng rộng thì sự độc quyền của người sở hữu chủ quyền SHTT càng lớn. (Hamzah, 2006, tr. 19)
Việc chứng minh về mặt lý thuyết cho việc bảo vệ SHTT bao gồm từ các cuộc tranh luận về kinh tế hay sáng tạo cho đến các cuộc tranh luận dựa trên niềm tin SHTT là sự mở rộng tính cách của một con người – điều này được ứng dụng cho bản quyền. Rõ ràng SHTT là thành quả lao động của một con người và do đó người ấy đáng được quyền SHTT. Sự khác biệt về giá trị giữa một khúc gỗ và một cái ghế là giá trị tăng thêm do người thợ mộc đem đến – sự khéo léo và sức lao động của ông ta đã biến khúc gỗ thành 1 cái ghế. Tương tự như vậy, sản phẩm của trí thông minh và sự sáng tạo mà quyền SHTT bảo vệ cũng phải được đánh giá tương úng. (Hamzah, 2006, tr. 19)
NGUỒN GỐC CỦA MỘT Ý TƯỞNG Hesse (2002) cho rằng khái niệm SHTT – ý nghĩ về việc sở hữu một ý tưởng, là con đẻ của Thời đại Ánh sáng ở châu u. Người Hy lạp cổ không nghĩ rằng tri thức là một cái gì có thể sở hữu hoặc buôn bán được. Dạo qua các nền văn minh lớn trước thời hiện đại – Văn minh Trung hoa, Hồi giáo, Do thái giáo và Thiên chúa giáo -, có thể nhận thấy sự thiếu vắng khái niệm về quyền sở hữu của con người đối với những ý tưởng hoặc lời nói của mình. Có những ý tưởng không đúng coi thường thương mại và do đó coi thường cả việc viết để kiếm tiến.
Ý tưởng của người Trung hoa Các tác giả sử dụng sự khéo léo của mình để tự hoàn thiện và hoàn thiện người khác Các tác giả Trung hoa không có quyền sở hữu về những lời phát ngôn của mình trước công chúng. Không thể sở hữu nội dung của những cuốn sách – kể cả những ý tưởng đặc biệt mà tác giả sử dụng và cho rằng đó là sở hữu của mình Chữ viết của Trung hoa được cho là chữ tượng hình và không người nào có quyền không cho người khác sử dụng chữ viết này.
Ý tưởng của người Hồi giáo Tất cả các nước Hồi giáo đều cho rằng tri thức là của Thượng đế. Kinh Koran là một cuốn sách tiêu biểu về các lời nói của Allah và nó không thuộc về ai cả. Phương tiện chính để truyền bá tri thức của Koran là đọc thuộc lòng từ thầy đến trò (bản thân chữ “Koran” nghĩa là đọc thuộc lòng) Sách chỉ là một công cụ giúp nhớ một cách dễ dàng và trung thực các lời nói. Điều này dần dẫn đến công nghệ in ở các nước Hồi giáo.
Ý tưởng của người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo Trong Kinh thánh của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo, Moses nhận được Bộ Luật từ Yahwe và chuyển giao tới những người đã được chọn. Trong Tân Ước, Chúa Jesus đã dạy các tông đồ: “ Hãy đón nhận. Hãy cho đi”. Các nhà thần học thời Trung cổ đã đưa đọan này vào Điều luật của Giáo hội “Scientia Donum Dei Est Unde Verdi Non Protest” và được dịch như sau “Tri thức là một món quà của Thượng đế, do đó không thể mang ra buôn bán được”. Buôn bán một vật gì thuộc về Thiên chúa là phạm tội buôn thần, bán thánh.
Tự thời kỳ Phục Hưng về sau Trong thời kỳ Phục hưng, các thi sĩ, nhà phát minh và nghệ sĩ được nâng lên các vị trí cao trong xã hội, nhưng thiên tài của họ vẫn được cho là do Thiên chúa truyền cảm hứng cho hơn là một sản phẩm của các kỹ năng trí tuệ hoặc sự lao động cực nhọc của họ. Vào thế kỷ 16. Martin Luther (1483 -1546) đã rao giảng một cách tự tin trong tác phẩm Warning to Printers: “ Hãy đón nhận, hãy cho đi và tôi không muốn nhận lại gì cả” Giao hoàng Alexander cho rằng thi sĩ là người tái tạo lại các chân lý truyền thống. Goethe cho rằng việc sáng tác thơ là một cái gì rất thiêng liêng.
Francis Wayland, Hiệu trưởng trường Đại học Brown những năm 1830, đã viết trong cuốn The Element of Moral Science rằng “thiên tài không phải chỉ để sử dụng cho quyền lợi của người sở hữu nó, mà còn phải phục vụ cho quyền lợi của những người khác nữa”.
Các loại hình SHTT Bản quyền Bằng sánh chế Thương hiệu Đăng ký mẫu mã Chỉ dẫn về địa lý Bí mật trong kinh doanh Chất bán dẫn trong phép đo vẽ địa hình Quyền của người tái sinh thực vật Quyền về cơ sở dữ liệu
Sách tham khảo về SHTT Hamzah, Z. (2006). Intellectual property law & strategy. Singapore: Sweet & Maxwell. Hesse, C. (2002). The rise of intellectual property, 700 B. C. A. D. 2000: An idea in the balance. Daedalus, 131(2), 26 45. Posner, R. A. (2002). The law & economics of intellectual property. Daedalus, 131(2), 5 12.
Bản quyền
Phát minh ra giấy Được phát minh vào thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên ở phía Tây Trung hoa bởi quan Thái giám Ts’ai Lun Gần đây ngành Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều di chỉ về giấy thô có niên đại sớm hơn - ít nhật là vào thới Hán Vũ Đế (140 -87 trước Công nguyên) Những loại giấy này được làm từ sợi cây gai dầu nên rất thô và có thể là ít được dùng đề viết mà chủ yếu là dùng để gói. Giấy do Ts’ai Lun làm ra từ vỏ cây dâu tằm, lưới đánh cá cũ và nhiều loại sợi tự nhiên khác.
Những tài liệu cổ nhất viết trên giấy được tìm thấy trong vùng sa mạc Nội Mông và Tân Cương có niên đại từ thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, không lâu sau khi Ts’ai Lun đem trình triều đình loại giấy của mình vào năm 105 Cả công nghệ làm giấy và việc sử dụng giấy đều phát triển nhanh chóng. Vào thế kỷ thứ 4, nó hoàn thay thế những thứ mà người Trung hoa cổ dùng để viết lên như những thẻ gỗ hoặc tre mà mỗi thẻ chỉ ghi được một dòng chữ và những cuộn tơ lụa.
Vào thế kỷ thứ 4, giấy đã tới được Turfan Khoảng năm 500 sau C. N. , giấy được sử dụng khắp Trung Á. Vào thế kỷ thứ 8, giấy được những tù nhân chiến tranh Trung hoa đem đến cho người Ả rập ở vùng Samarkand Vào năm 800 sau C. N. , giấy được sản xuất ở Bagdad Từ thế giới Ả rập, giấy được du nhập vào châu u có lẽ vào thế kỷ 11. Ngay tại Trung hoa, vào thời nhà Đường (618 907 sau C. N), sản xuất giấy đã phát triển thành một nghệ thuật, trở thành 1 ngành công nghiệp chủ đạo và đã sản xuất được nhiều loại giấy mịn.
Sự ra đời của ngành in ấn ở phương Tây Vào thời Trung cổ, việc nhân bản một tác phẩm là cực kỳ khó khăn. Tác phẩm trí tuệ được quy định bởi luật sở hữu. Tác giả của một bản viết tay hay nhà điêu khắc của một bức tượng trở thành tác giả của một vật hữu hình và có thể bán nó cho người khác. Một bản viết tay chỉ có thể viết lại bằng tay với số lượng rất hạn chế. Nguồn gốc của bản quyền bắt đẩu từ phát minh của Johann Gutenberg (1397 1468) về in ấn.
Vì phát minh này đã đem lại việc sản xuất sách. Một bản viết tay lúc bấy giờ đã có thể in ra với số lượng lớn và phân phát cho công chúng. Bản viết tay bấy giờ đã trở thành một vật để buôn bán và có thể đem lại tiền của cho tác giả của nó Các nhà in được đặc quyền in lại những bản viết tay cổ (cuốn Kinh thánh Gutenberg, in xong năm 1454 hay 1455, là cuốn sách đầu tiên) Kinh thánh Gutenberg Bible ở Trung tâm Ransom [link] Kinh thánh Gutenberg Bible ở Thư viện Hoàng gia Anh [link]
Sự ra đời của Bản quyền Sau đó, họ bắt đầu in tác phẩm của các tác giả còn sống. Ban thưởng hoáng gia đấu tiên cho ngành buôn bán sách là danh hiệu “King’s Printer” được trao tặng cho William Facques vào năm 1504. Địa vị này cho phép ông in những tuyên bố của hoàng gia, các bức tượng và những tài liệu chính thức khác. Vào năm 1557, nhà vua Anh sắp xếp lại phường hội in và xuất bản, đặt tên là “Stationers’ Company” và trao cho họ sự độc quyền thực sự về in ấn và phát hành ở London và trên toàn Vương quốc
Quyền được hưởng lợi từ một cuốn sách không phải bắt nguồn từ việc sở hữu ý tưởng nhưng từ một “đặc quyền” được hoàng gia ban phát. Vào những năm 1570, 4 thành viên của Stationers’ Company có được sự kiểm soát độc quyền, qua các “bằng sáng chế”, trên những cuốn sách “sinh lợi” nhất được in ra: Christopher Barker, với danh hiệu Queen’s Printer, có quyền in Kinh thánh, Tân ước, Sách Kinh đọc chung và tất cả những Đạo luât, tuyến bố và văn bản chính thưc khác. William Serres, có quyền in sách kinh riêng, sách vỡ lòng và sách giáo khoa. Richard Tottel, có quyền in sách về thông luật John Day, có quyền in sách học vần, sách giáo lý và sách thánh ca.
Trong thế kỷ 17, Stationers’ Company làm sức ép để có được cái gọi là bảo vệ bản quyền Vào ngày 11/1/1709, một bản dự thảo luật được đưa ra tại Hạ viện “để khuyến khích việc học” Bản dự thảo này được trở thành luật vào ngày 10/4/1710. Đạo luật Anne (So. A) là luật bản quyền đầu tiên theo nghĩa hiện đại cũa từ ngữ và lần đầu tiên nó công nhận sự hiện hữu của một quyền cá nhân để bảo vệ một tác phẩm đã được giới thiệu với công chúng.
Đạo luật Anne cho phép tác giả một cuốn sách đã được in ra độc quyền được tái bản tác phẩm của mình trong thời gian 21 năm. Đối với những cuốn sách không được in ra, bản quyền có thời hạn là 14 năm với một điều khoản là sau khi hết hạn tác quyền, nếu tác giả còn sống, có quyền gia hạn thêm một thời hạn 14 năm nữa. Để có thể bảo vệ bản quyền theo Đạo luật Anne, phải qua một số thủ tục như: tác giả phải đăng ký tác phẩm của mình dưới tên thật và phải nộp 9 bản lưu chiểu cho các trường Đại học và thư viện ở Stationers’ Hall
William Hogarth kiến nghị với Quốc hội về việc bảo vệ các tác phẩm chạm khắc (đó không phải là sách và do đó không được Đạo luật Anne bảo vệ) Quốc hội thông qua bản quyển của những thợ chạm khắc và Sắc luật Hogarth vào năm 1735 Vào năm 1791, Johann Gottlieb Fichte góp phần của mình vào công cuộc này ông ta nhận thấy rằng nhiều người có cùng ý tưởng, và bằng trực giác riêng, mỗi người có cách diễn tả ý tưởng đó một cách độc lập với những người khác.
Fichte cho rằng để một ý tưởng được xem như một vật sở hữu, nó phải có một điểm cá biệt để chỉ có một nguời chứ không phải nhiều người có thể đòi hỏi quyền sở hữu ý tưởng đó. Điểm cá biệt không dựa trên chính ý tưởng mà dựa trên hình thức độc đáo mà tác giả chọn để trình bày ý tưởng của mình. Một khi đã được in ra, ý tưởng trở thành sách và thuộc về tất cả mọi người, nhưng cái hình thức đặc biệt để trình bày ý tưởng là sở hữu độc quyền của tác giả
Một loại hình văn sĩ mới Vào cuối thế kỷ 18, đọc sách trở nên phố biến và ngày càng có nhiều người biết chữ. Nhu cầu về một nền văn học thế tục, đặc biệt là tiểu thuyết, các tác phẩm sân khấu, các cuốn sách tự học ngày càng tăng. Số lượng những người trẻ tuổi mong muốn trở thành người cầm bút ngày càng nhiều, Nhưng họ là người cầm bút của một thể loại khác, hướng về tiềm năng kinh tế hơn là hào quang vĩnh cửu Nhiều người tìm cách kiếm sống bằng ngòi bút của mình
Các tác giả bắt đầu cho rằng họ đáng được hưởng một phần của lợi nhuận và càng ngày càng cố tìm cách bán “quyền” cho 1 nhà xuất bản hơn là bán bàn viết tay. Nhu cầu ngày càng tăng của sách dẫn đến việc “đạo văn”. Những bản in rẻ tiền bắt đầu tràn lan thị trường thành phố những nhà xuất bản các loại sách ăn cắp bản quyền đã thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường và đối đầu với sự độc quyền cũa phường hội sách.
Vấn đề họ đặt ra là: Tại sao không nhà xuất bản nào đòi hỏi quyền lợi riêng biệt về một tác phẩm mà tác giả và những người thừa kế không còn sống – và cả trên những tác phẩm có trước khi ngành in ra đời. Sự cải cách ngành in ở châu u buộc người ta phải cân nhắc lại nền tảng và mục đích của tri thức. Hai nhà tri thức đã góp phần vào việc cân nhắc này John Locke viết rằng “Mỗi người đều có quyền sở hữu trên con người mình. Không ai có quyền này trên anh ta, trừ chính anh ta. Chúng ta có thể nói rằng Lao động của Thân thể anh ta, sản phẩm từ bàn tay anh ta là vật sở hữu của anh ta. ”
Theo Locke, tri thức bắt nguồn từ việc Tự nhiên tác động lên các giác quan Theo nghiên cứu của ông, nguồn cảm hứng được tiếp thu và định nghĩa lại như là nhận thức. Thi sĩ Edward Young khẳng định rằng tác giả góp phần nhiều hơn chính sức lao động của anh ta vào cuốn sách – anh ta đã in dấu vào nội dung của cuốn sách bằng chính tính cách riêng của anh ta. Nhận thức xuất phát từ sự làm việc của một tâm trí độc nhất. Những ý tưởng này toát ra như sự thế tục hóa lý thuyết về tri thức.
Ý tưởng của Locke và Young lan tới Pháp Hình thức nào của sự giàu có có thể thuộc về một người nếu đó không phải là tác phẩm của trí tuệ … nếu đó không phải là những suy nghĩ của anh ta … phần quý giá nhất của anh ta không bao giờ có thể tàn lụi và sẽ làm cho anh ta bất tử ? Có thể có sự so sánh nào không giữa một người, cái cơ bản nhất của một con người, tâm hồn anh ta và một cánh đồng, một cái cây, một dây leo mà tạo hóa đã ban tặng lúc ban đầu như nhau mà con người đã sở hữu bằng cách trồng trọt nó ? Denis Diderot (1763)
Và tới Đức Cái gì ? Có phải là văn sĩ bị chê cười vì đã vụ lợi càng nhiều càng tốt từ con đẻ của trí tưởng tượng của ông ta? Chỉ vì anh ta làm việc với những khả năng cao quý của mình nên anh ta không được quyền có được sự thỏa mãn mà một người làm việc chân tay thô lỗ nhất có thể có được ? … Chúng ta nhận được một cách dễ dàng, thì hãy trao tặng một cách dễ dàng ! Nhà quý tộc Luther đã nghĩ như vậy. … Tôi cho rằng Luther là một ngoại lệ trên nhiều mặt. Gotthold Lessing (1772)
Bản quyền: Sự bảo hộ quốc tế Luật bản quyền chỉ có hiệu lực theo từng lãnh thổ, nó trở thành vấn đề khi mậu dịch quốc tế tăng cao sau khi mở kinh đào Suez vào ngày 17/11/1869. Mậu dịch quốc tế là thành quả của hoạt động ngoại giao Các tác giả phải đối đầu với nạn “đạo văn” ở nước ngoài. Chẳng hạn cuốn tiểu thuyết của Harriet Beecher Stowe “Túp lều chú Tom” đã được bán với số lượng lớn ở Anh quốc. Các vấn đề cần được giải quyết: Việc dịch tác phẩm ra tiếng nước ngoài Việc bảo vệ các tác giả nuớc ngoài trong biên giới quốc gia
Động thái đầu tiên theo hướng này là việc xây dựng những điều khoản đặc biệt trong luật pháp quốc gia về sự nhân nhượng lẫn nhau. Thí dụ: Tác phẩm của các công dân nước A được bảo vệ ở nước B thì tác phẩm của các công dân nước B sẽ được bảo vệ ở nước A. Những cuộc dàn xếp song phương này đem đến nhiều giải pháp rắc rối. Vào năm 1886, Công ước Berne về việc Bảo vệ các Tác phẩm Văn học và Nghệ thuật được ký kết. Tiếp theo đến năm 1952 là Công ước Toàn cầu về Bản quyền.
QUAN ĐIỂM CỦA TÁC GIẢ Tại cuộc họp Liên đoàn Quốc tế các Đoàn thể những Tác giả và nhà Sọan nhạc (CISEC) vào năm 1956, Hiến chương về Quyền Tác giả đã được thông qua. Hiến chuơng ghi rõ: Tác phẩm của trí tuệ là sự diễn đạt tính cách của tác giả và đồng thời là tài sản về mặt kinh tế. Do đó, quyền của tác giả trên các tác phẩm của mình giống như quyền của người cha. Cũng dựa trên những nguyên tắc đó, tác giả có toàn quyền chuyển giao tác phẩm của mình dưới tất cả các hình thức khai thác kinh tế, với bất cứ giá trị hay mục đích nào.
Và nhiều hơn nữa … Các tác giả trong văn học, âm nhạc, nghệ thuật và khoa học giự một vai trò trí tuệ và bác học trong xã hội vì quyền lợi sâu sắc và lâu dài của nhân loại và là nhân tố quyết định trong viec định hình tiến trình của nền văn minh. Theo đó, Nhà Nuớc sẽ ban cho tác giả sự bảo vệ cao nhất có thể có, không phải vì sự tôn trọng các thành quả cá nhân của ông ta, mà còn để công nhận sự đóng góp của ông ta vào sự nghiệp chung.
Ngày nay: Tài liệu điện tử Dễ sử dụng: Nội dung có thể sang tác và duyệt lại, cắt và dán, định dạng và xoay hướng. Các đặc trưng khác như Mục lục có thể khai thác và sửa đổi theo ý muốn. . Liên kết bên trong và bên ngoài: Các dạng tài liệu (văn bản, hình ảnh, tài liệu nghe, tài liệu xem) có thể kết nối và kết nối lại với nhau và với những dạng tài liệu khác. Sẵn sàng chuyển đổi. Các dạng lưu trữ (đĩa, băng từ, in ấn) có thể thay đổi và trao đổi với nhau, từ đầu vào chuyển đến đầu ra. Việc lưu trữ đòi hỏi chỗ trống trên đĩa chứ không phải nhà kho.
Vốn dễ tìm kiếm. Cấu trúc dữ liệu lô gích, tiến hành với ngôn ngữ tự nhiên, và các phần mềm chuyên biệt làm cho việc truy cập và hiểu nội dung được dễ dàng. Chuyền đi tức thời. Thông tin có thể chuyển đi tức thời (hoặc nói chính xác hơn, trong vài giây hoặc ít hơn) tới bất kỳ vị trí địa lý nào. Sự chuyển giao này đòi hỏi phải dùng mạng điện tử, chứ không phải xe tải. Tha hồ nhân bản. Chuyển giao thật ra là nhân bản, bản gốc vẫn còn nguyên. Số lượng nhân bản không bị hạn chế về mặt kỹ thuật. Việc sản xuất và sao chép hàng loạt không ảnh hưởng đến chất lượng của bản sao (hay bản gốc).
Vấn đề chính Tài liệu điện tử có thể nhân bản đến vô tận. Chuyển giao thật ra là nhân bản, bản gốc vẫn còn nguyên. Số lượng nhân bản không bị hạn chế về mặt kỹ thuật. Việc sản xuất và sao chép hàng lọat không ảnh hưởng đến chất lượng của bản sao (hay bản gốc).
Sự quan tâm của những người sở hữu quyền về nội dung điện tử Một khi nội dung thể hiện dưới dạng điện tử thì những nguời sở hữu bản quyền lo lắng về khả năng bản quyền bị vi phạm. Có thể do 4 nhân tố: Tài liệu điện tử dễ dàng bị sao chép. Thí dụ ta co thể so sánh việc sao chép tài liệu điện tử với thời gian và công sức đứng bên cạnh máy photo để nhân bản. Bản sao điện tử có chất lượng rất cao. Bản photo một cuốn sách, dù đã được cắt xén và đóng thành sách, không thể nào bằng bản gốc, trong khi một bản sao dưới dạng điện tử sẽ không thể phân biệt được với bản gốc.
Tài liệu có thể gởi tới cho nhiều người trong vòng vài giây. Thí dụ, một báo cáo dưới dạng Adobe PDF, Rich Text Format, hay MS Word có thể chuyển đính kèm theo thư diện tử (e-măil). Nhân bản điện tử tốn kém ít thậm chí rất ít. Để photo tài liệu, cần phải tính tới tiền giấy và tiền mực, củng như thì giờ của nhân viên trong khi nhân bản điện tử tốn kém rất ít.
Về sự ổn định Điều khoản 27 của Tuyên bố Tòan cầu về Quyền con người (thông qua ngày 10/10/1948) ghi rằng: Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, hưởng thụ nghệ thuật và được chia sẻ những tiến bộ khoa học và những ích lợi của nó. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các sở thích về tinh thần và vật chất có được từ bất kỳ một sản phẩm văn học và nghệ thuật nào mà ông ta là tác giả. Sự ổn định này đã giữ được nhiều năm, nhưng thế giới điện tử đã gây nên sự rắc rối mới.
Chiến thuật mới của những người sở hữu quyền Đưa ra những biện pháp bảo vệ hợp pháp mới – Tại Anh quốc, Điều luật về Bản quyền và Quyền tác giả trên Cơ sở Dữ liệu được đưa ra để bảo vệ các cơ sở dữ liệu: Để một cơ sở dữ liệu được bảo vệ bản quyền, việc sắp xếp nội dung cơ sở dữ liệu phải độc đáo. Để một cơ sở dữ liệu được bảo vệ quyền cơ sở dữ liệu, phải đầu tư đáng kể vào việc thu thập, kiểm tra và sắp xếp nội dung của cơ sở dữ liệu. Một số cơ sở dữ liệu đuợc bảo vệ bởi cả bản quyền và quyền cơ sở dữ liệu.
Sử dụng công nghệ để kiểm tra việc truy cập Hệ thống DRM có thể dùng để kiểm tra việc truy cập vào các tài liệu có bản quyền. Sử dụng luật hợp đồng để điều chỉnh việc sử dụng nội dung Thông tin dưới dạng điện tử thường kèm theo giấy phép hoặc thời hạn và điều kiện sử dụng. Thực tế thì việc sử dụng các sản phẩm thông tin được điều chỉnh bởi luật hợp đồng hơn là luật bản quyền. Để mọi người dễ dàng tuân theo Luật SHTT: Kiện cáo ra tòa có thể rất tốn kém. Lý tưởng nhất trong hệ thống SHTT là việc bảo vệ SHTT phải nhanh, nằm trong khả năng của mình và đúng đắn
Công ước Berne về Bản quyền Điều khoản 5 quyền lợi được bảo đảm (1) Tác giả phải được thụ hưởng, đối với những tác phẩm được bảo vệ theo Công ước này, tại những quốc gia khác của Liên hiệp ngoài quốc gia gốc, những quyền lợi của luật pháp các nuớc sở tại lúc đó và sau này có thể ban cho công dân các nuớc đó, cũng như những quyền lợi quy định đặc biệt bời Công ước. (2) Việc hưởng thụ và thực thi các quyền này không đòi hỏi thủ tục nào hết. Nguồn
Một trích dẫn thú vị Internet là máy sao chép lớn nhất thế giới. (Todd, 2008, tr. 159)
Những thứ từ Internet cung cấp tài liệu mà ta có thể lấy được miễn phí Hình ảnh sắc nét, chụp tốt (như trong Flickr. com) Nhạc hay (như trong Radio. Blog. Club. com) Bài viết hay (như trong Wired. com) Những băng video khó tìm (như trong You. Tube. com) Tất cả đều rất dễ tải về, chỉ cần nhấp chuột phải và nhấp chuột trái, nó đã được lưu trong ổ cứng của bạn. Câu hỏi lớn: Tôi có thể sử dụng các tài liệu này theo ý minh không ? TRẢ LỜI: Không
Hình ảnh
Nhạc Hãy vào: http: //www. Radio. Blog. Club. com/ Tìm: Air Supply Nghe bài: All Out of Love
Bài văn Hãy vào: http: //www. Wired. com/ Tìm “Star Wars Costume” Đọc: bài báo “Star Wars Costume Copyfight Spreads to England”
Video Hãy vào: http: //www. You. Tube. com/ Tìm: “Paul Potts” Xem phim: Nessun Dorma
Bản quyền là gì ? Bản quyền là một dạng bảo vệ hợp pháp cho tác giả của những tảc phẩm gốc, dù nó được xuất bản hay chưa. Chữ tác giả dùng cho bất kỳ người nào tạo ra một sản phẩm có bản quyền. Tại sao bản quyền lại quan trọng ? Luật Bản quyền được lập ra để đảm bảo cho tác giả được tưởng thưởng cho tác phẩm của mình và có thể kiểm soát được những hòan cảnh mà tác phẩm của họ được sử dụng, kể cả việc sao chép, chuyển dạng. Nó thúc đẩy đổi mới và khuyến khích phát triển tri thức mới bằng cách cấp tiền thuởng cho ai sáng tạo và chia sẻ tri thức.
Bản quyền bảo vệ cái gì ? Luật bản quyền bảo vệ sự diễn đạt một ý tưởng chứ không phải những ẩn ý hoặc những sự việc ẩn dấu, như nguyên tắc pháp luật về sự lưỡng phân Ý tưởng-Diễn đạt. Nó phân biệt một bên là chủ đề một bên là cách diễn đạt chủ đề đó. Dù ý tưởng của bạn về một tiểu thuyết, một cuốn phim, một phương pháp hay một tiến trình nào đó có hay đến mấy, bạn cũng không thể ngăn cản người khác diễn đạt ý tưởng đó theo cách của họ.
Thí dụ Bạn viết một câu chuyện về những người ngoài Trái đất màu xanh chiếm Trai đất và đặt tên câu chuyện là Cái ngày mà những người ngoài Trái đất màu xanh chiếm Trái đất. Ý tường về người ngoài Trái đất tiến hành tàn phá Trái đất và cả nhan đề sách nữa không được bảo vệ bản quyền. Dù sao đi nữa, không ai được quyền sử dụng nội dung, nhân vật của bạn. Những yếu tố này là cách diễn đạt ý tưởng của riêng bạn.
Khác nhau giữa ý tưởng và sự diễn đạt Ý tưởng: Nhìn sấm sét cũng thích chứ
Khác nhau giữa ý tưởng và sự diễn đạt Ý tưởng: Một cuốn phim kinh dị về những con ma đi giết người kể cũng hay đấy
Mục đích của Bản quyền Luật bản quyền bảo vệ các sáng tạo của các cá nhân bằng cách cho họ độc quyền các tác phẩm của họ trong một thời gian nhất định. Luật pháp cũng muốn lấy đi sự độc quyền này bằng cách là cuối cùng thì cho phép công chúng truy cập tác phẩm, người mà chúng ta có thể cho là sẽ xây dựng và hoàn thiện tác phẩm. Xã hội có thể truy cập tác phẩm ở điểm nào đó để làm nó tốt hơn và tiến bộ hơn. Một cá nhân cũng có thể sử dụng tác phẩm nếu được tác giả cho phép.
Cân đối giữa bảo vệ và làm mới Bảo vệ bản quyền nhằm cân bằng quyền lợi cho những người sáng tác và xã hội một cách đầy đủ nhất. Bảo vệ bản quyền khuyến khích mọi người sáng tạo và đổi mới (không ai có động cơ viết một cuốn tiểu thuyết nếu không thu được tiền từ những nỗ lực của mình). Việc truy cập của xã hội vào những sáng tác này cũng thúc đẩy việc đổi mới.
Tương tác giữa Bản quyền và Công nghệ Luật Bản quyền không phải từ trên trời rơi xuống mà là thành tựu của một quá trình tịến hóa chậm. Qua nhiều năm, công nghệ mới (như máy video-casette và Internet) đã buộc Luật Bản quyền phải thay đổi. Users outpace technology Technology outpaces the law The law both promotes and limits use
Vấn đề nảy sinh Những người sở hữu bản quyền rất quan tâm đến việc quyền trên các tac phẩm của họ bị lạm dụng và việc các công nghệ mới, như những trang web chia sẻ tập tin, giúp cho việc vi phạm bản quyền băng cách “ăn cắp” các tác phẩm trí tuệ trở nên dễ dàng hơn. Những người sử dụng tác phẩm có bản quyền và công chúng thì lại quan tâm đến viêc mai một quyền sử dụng của công chúng đối với những tác phẩm không cần bản quyền, và việc mất đi truyền thống sáng tạo, vay mượn, đổi mới và cải thiện có từ ngàn xưa.
Bảo hộ Bản quyền bắt đầu từ lúc nào ? Một khi bạn đã sáng tạo ra một tác phẩm gốc, bạn không cần làm gì để bảo vệ bản quyền cho tác phẩm ấy cả. Bạn không cần xuất bản tác phẩm, và cũng không cần đăng ký nó. Bản quyền bảo vệ tác phẩm gốc của bạn về quyền tác giả cố định trên bằng bất kỳ phương tiện diễn đạt nào, ngay sau khi no có được hình thức hiện hữu. Ghi chú: Tác phẩm phải là bản gốc, dù nó không nhất thiết là mới hoặc độc nhất – tác phẩm có thể hoàn toàn không độc đáo, không có chất lượng hoặc không có giá trị nghệ thuật nào hết.
Những tác phẩm có quyền tác giả Có nhiều dạng tác phẩm: Tác phẩm văn học như sách, kịch thơ, tuyển tập hoặc chương trình máy tính. Tác phẩm âm nhạc, kể cả lời nhạc hoặc lời thơ. Tác phẩm sân khấu, kể cả phần âm nhạc kèm theo. Những vở kịch thiếu nhi hoặc vũ kịch Các tác phẩm hình ảnh, đồ họa và điêu khắc, kể cả các bản vẽ kiến trúc, nghệ thuật không gian 2 hoặc 3 chiều, hình chụp, bản đồ, biểu đồ, đồ thị, đồ họa trên máy tính và mô hình.
gg Phim ảnh và những tác phẩm thính thị khác, bao gồm bảng tổng phổ, bài diễn văn và những hiệu ứng âm thanh. Các tác phẩm ghi âm, bao gồm những tác phẩm âm nhạc, diễn văn và âm thanh không nằm trong các tác phẩm phim ảnh và các tác phẩm thính thị. Các tác phẩm kiến trúc. Hình xăm
Phương tiện hữu hình để diễn đạt Nó liên quan đến hình thức mà tác phẩm được trình bày, dù thời gian có ngắn đến mấy Để được bảo vệ, tác phẩm phải được xem xét, phải có thể tái sản xuất hoặc truyền bà. Thí dụ bao gồm cả giấy tờ, bản thu âm, băng video, phương tiên kỹ thuật số hoặc RAM máy tính Thí dụ: Bạn xác định ý tưởng của bạn trên một bản nhạc khi bạn (i) thâu âm nó; (ii) viết ra nốt nhạc và lời trên giấy; (iii) nhập lời nhạc và nốt nhạc vào một phần mềm ký âm (như Finale)
Những đặc quyền của người có bản quyền Tác giả của một tác phẩm có bản quyền có đặc quyền được kiểm tra xem tác phẩm mình được sử dụng thế nào. Những đặc quyền này được biết như một “cụm quyền” và bao gồm: Nhân bản (như sử dụng máy photocopy) Sáng tạo ra những tác phẩm kèm theo (như bộ phim phỏng theo một cuốn sách) Phát hành rộng rãi ra công chúng Phát hành hoặc công diễn các tác phẩm văn học, âm nhạc, vở kịch và bài múa, kịch thiếu nhi, và phim và những tác phẩm thính thị khác.
Phát hành hoặc công diễn các tác phẩm văn học, âm nhạc, vở kịch và bài múa, kịch thiếu nhi, và các tác phẩm hình ảnh, đồ họa, điêu khắc. Phát hành qua chuyển tải kỹ thuật số các băng đĩa ghi tiếng. Các quyền này có thể được phân trên cơ sở cân nhắc người sở hữu bản quyền – nếu bạn chụp một tấm hình, bạn có thể cho phép Peter tung tấm hình kỹ thuật số đó lên trang web của anh ta, cho phép Pamela in hình đó lên một tạp chí và cho phép Paul phóng tấm hình đó ra khổ 70 -ft trên một panô quảng cáo.
Sao chép lại Bao gồm việc sao chép một phần hay toàn bộ tác phẩm. Việc vi phạm bao gồm việc sao chụp một cuốn sách. Đưa hình một nhân vật trong một bộ phim hoặc bộ phim hoạt hình lên áo thun. Sao chep lậu phần mềm, nhạc hoặc video. Sử dụng biểu tượng phim hoạt hình trên một cái bánh hay ca uống nước.
Những tác phẩm phát sinh Chuyển đổi nó qua một phương tiện khác. Như đưa nhân vật Harry Potter vào phim ảnh, trò chơi máy tính, hình ảnh động, v. v… Dịch sách (như bản dịch tiếng Anh tác phẩm Le Petit Prince của Saint Exupéry) Hòa âm phối khí (như hòa âm một bản nhạc gốc dành riêng cho piano) Phát hành một cuốn sách (như sách chữ Braille cho người mù, phiên bản dành cho trẻ em của một cuốn sách)
Bảo vệ bản quyền trong thời gian bao nhiêu ? Thời hạn bảo vệ bảo quyền là thời gian sống của tác giả cộng thêm 70 năm Như vậy nếu bạn viết một bản nhạc ở tuổi 20 vào năm 2010 thì người thừa kế của bạn vẫn còn được hưởng quyền lợi từ tác phẩm của bạn hàng mấy chục năm sau. Thí dụ Năm có bản quyền tác giả: 2010 (tác giả 20 tuổi) Năm tác giả qua đời: 2070 (tác giả 80 tuổi) Bản quyền tác giả có hiệu lực đến năm: 2140 (năm tác giả mất + 70 năm)
Nhưng nếu tôi mua tác phẩm ? Tình trạng bản quyền của một tác phẩm không thay đổi khi bạn mua một bản của tác phẩm này. Khi bạn mua một cuốn sách, một CD hay DVD, bạn sở hữu một vật về mặt vật chất chứ không sở hữu những quyền lợi về bản quyền của vật đó. Tuy vậy, bạn có thể bán lại, cho mượn, bỏ đi hay tùy nghi sử dụng vật này – nguyên tắc này là học thuyết đầu tiên về bán hàng Bạn có thể sang lại một bản nhạc hoặc một cuộn băng video hoặc một chương trình truyền hình, nhưng chỉ được sử dụng cho mục đích cá nhân.
Những tác phẩm không được bảo vệ Nhiều loại tác phẩm không được bản quyền bảo vệ. Ý tưởng, sự việc, nhan đề, khẩu hiệu, khám phá, những tác phẩm ngẫu hứng (Ghi chú: khẩu hiệu có thể được bảo vệ bởi thương hiệu) Học thuyết liên kết, được áp dụng khi chỉ có một ít cách để mô tả sự việc hoặc diễn đạt ý tưởng Như luật một cuộc thi hoặc xổ số. Như chỉ có rất ít cách để viết ra điều luật hữu hiệu nhằm đạt được kết quả mong muốn.
Cảnh trí sân khấu, nhân vật, và những nét chính của một tác phẩm được xem là tiêu chuẩn hoặc cần thiết cho loại hình hoặc lĩnh vực (được cho là scenes à faire) Tác phẩm cũng có thể đưa ra công chúng vì những lý do sau đây: hết hạn bản quyền không gia hạn lại không chính thức được bảo vệ bản quyền người sở hữu từ bỏ việc bảo vệ bản quyền tác phẩm và đưa ra công chúng.
Công ước này không bảo vệ những tin tức phát ra trong ngày hay sự kiện linh tinh liên quan đến những nhân vật không quan trọng trên thông tin báo chí (Berne, Điều khoản 2(8)) Phải gạt, toàn phần hoặc một phần, việc bảo vệ do Điều khoản trên đây về diễn văn chính trị và diễn văn đọc tại những diễn biến chính thức ra khỏi vấn đề xây dựng pháp luật ở những nước trong Liên Hiệp (Berne, Điều khoản 2 bis(1))
Bản quyền bảo vệ lời nói chứ không bảo vệ ý tưởng, cách tiến hành, phương pháp hoạt động hoặc khái niệm toán học (Hiệp ước Bản quyền WIPO) Những tác phẩm chứa đựng thông tin thuộc sở hữu cộng đồng và không có quyền tác giả gốc (thí dụ: lịch thông thường, biểu đồ chiều cao và cân nặng, đơn vị đo lường, và danh sách hoặc bảng lấy ra từ các tài liệu công cộng hoặc nguồn chung khác) (Hoa kỳ) Bảng liệt kê thành phần hoặc nội dung (Hoa kỳ)
Lãnh vực công cộng và những tác phẩm được truy cập mở Các cơ quan chính quyền quôc gia hoặc tiểu bang có liên quan ở Mỹ (như kho tài liệu về lịch sử - địa lý của Bộ Nông nghiệp Hoa ký) (http: //www. usda. gov/oc/photo/histfeat. htm) Thư viện Quốc hội (http: //www. loc. gov/) Các thư viện công cộng hàng đầu, như Thư viện TP New York (http: //www. nypl. org/) Các thư viện trường đại học (như Chương trình Kho tài liệu mở của Đại học Harvard) (http: //ocp. hul. harvard. edu/) Trang web chia sẻ hình ảnh (như trang web Creative Commons của Flickr) http: //www. flickr. com/creativecommons/)
Vi phạm bản quyền Vấn đề này đề cập đến việc vi phạm một hoặc nhiều quyền của một người sở hữu bản quyền qua việc sử dụng tác phẩm này mà không được sự đồng ý hoặc không trả tiền nhuận bút. Đơn giản là việc sử dụng SHTT của một người mà không được sự cho phép. Việc vi phạm có thể dưới nhiều dạng: Sao chép một tác phẩm bằng cách tải về ổ đĩa cứng. Scan một hình ảnh trong một cuốn sách để dùng trong brochure của cơ quan bạn. Phát tán sách hoặc nhạc có bản quyền trên Internet.
Sáng tác một tác phẩm âm nhạc mới bằng cách lấy mẫu từ một tác phẩm đã có. Xây nhà từ một bản thiết kế đã có bản quyền. Kết nối inline (đưa vào trang web của mình một hình ảnh lấy từ một trang web có bản quyền) Số hóa một phim có bản quyền và đưa lên trang web của mình (việc này được xem như công chiếu một tác phẩm)
Các loại vi phạm Vi phạm bản quyền có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Vi phạm trực tiếp khi bạn vi phạm một trong những quyền riêng biệt của người sở hữu bản quyền. Để chứng tỏ mình bị vi phạm trực tiếp, người sở hữu bản quyền phải thực hiện các bước như sau: Tác phẩm đó phải có bản quyền Người vi phạm đã sao chép tác phẩm, thể hiện qua việc: ▪ Người vi phạm thú nhận (Điều này hiếm khi xảy ra) ▪ Người sở hữu bản quyền đưa ra các bằng chứng gián tiếp về sự vi phạm bằng cách chứng minh rằng người vi phạm đã truy cập vào tác phẩm và tác phẩm sao chép giống một cách đáng kể với tác phầm có bản quyền. Việc sử dụng tác phẩm là không hợp pháp.
Loại vi phạm thứ hai là vi phạm gián tiếp Trong trường hợp này, người vi phạm không trực tiếp vi phạm bản quyền, nhưng giúp một người nào đó thực hiện hành vi vi phạm. Có hai loại vi phạm gián tiếp tham gia vi phạm và vi phạm liên đới. Tham gia vi phạm là hành vi giúp đỡ vi phạm, như cung cấp một sản phẩm mà một người khác dùng để vi phạm bản quyền (như trang web 4 shared. com giúp mọi người tải về những cuốn sách có bản quyền, như “ 1907”)
Bạn có thể cho rằng tham gia vi phạm là một hành động xúi giục hoặc khuyến khích việc vi phạm. Liên đới vi phạm xảy ra khi bạn có quyền lợi hoặc khả năng giám sát hành động vi phạm và có lợi ích về kinh tế khi giúp đỡ vi phạm. Kể cả khi bạn không biết đến hành động vi phạm, bạn cũng có liên lụy đến vi phạm, ngay cả khi bạn quản lý chợ trời và cho một người buôn bán CD và DVD sao chép lậu mướn một sạp hàng và bạn không biết người đó buôn bán loại mặt hàng đó.
Liên đới vi phạm và Tham gia vi phạm Liên đới vi phạm Tham gia vi phạm Quản lý một chợ trời và cho một người mướn sạp hàng để buôn bán các bản CD và DVD sao chép lậu Quảng cáo và bán trên Internet phần mềm có thể bẻ khóa bất kỳ chương trình nào. Làm chủ một trang web và chat về phim ảnh được nhiều người yêu thích và cho phép các thành viên được đưa lên và tải về những hình ảnh và những trích đọan đã được bảo hộ bản quyền. Cung cấp một cách có ý thức kết nối tới những trang web có những bài hát hoặc phim video không có bản quyền. Cung cấp những thí dụ về trang web chứa đựng những cuốn sách đang lưu hành ở TP. Hồ Chí Minh ?
Thư yêu cầu ngưng và chấm dứt Nếu bạn bị phát hiện sử dụng một tác phẩm có bản quyền nào mà không có phép, bạn sẽ nhận được một bức thư yêu cầu ngưng và chấm dứt sử dụng. Đó là một yêu cầu chính thức để bạn chấm dựt hành động vi phạm. Một bức thư yêu cầu ngưng và chấm dứt sử dụng là thông báo chính thức rằng một người nào đó cho rằng bạn vi phạm bản quyển của họ và sự việc được xem là nghiêm trọng. Bức thư chỉ rõ rằng bạn đã sao chép tác phẩm này không phép khi nào và lúc nào, yêu cầu bạn chấm dứt ngay tức khắc việc sử dụng và phát tán tác phẩm, và yêu cầu phải trả lời là bạn đã làm xong việc này vào thời điểm nào.
Học thuyết sử dụng công bằng Việc sử dụng hợp lý là giới hạn quan trọng nhất, hoặc ngoại lệ cho việc bảo hộ bản quyền. Nó cho phép mọi người sử dụng tác phẩm có bản quyền cho một vài mục đích mà không cần phải có sự cho phép của người sở hữu bản quyền. Nhưng không có một điều luật cứng rắn và tức thời nào nói rõ thế nào là sử dụng hợp lý. Quy định này chỉ áp dụng cho từng trường hợp một, cho nên khó có được một khái niệm vững chắc để bám lấy. Quy định về việc sử dụng hợp lý đưa ra bốn nhân tố mà tòa án căn cứ vào đó để cân nhắc khi nào thì việc sử dụng là hợp lý.
Bốn nhân tố Nhân tố 1: Mục đích và tính chất của việc sử dụng Nhân tố 2: Bản chất của tác phẩm có bản quyền. Nhân tố 3: Số lượng và tầm quan trọng của phần vi phạm đối với tổng thể của tác phẩm có bản quyển. Nhân tố 4: Hiệu quả của việc sử dụng trên thị trường hoặc thị trường tiềm năng của tác phẩm có bản quyền.
Nhân tố 1 Bạn dự định sử dụng tác phẩm đó như thế nào ? Thí dụ về việc sử dụng: giáo dục không vụ lợi, báo cáo tin tức, học bổng, nghiên cứu, cải biên Cải biên nghĩa là tác phẩm được thay đổi (diễn đạt lại hoặc phân tích lại) thành một ý nghĩa mới hoặc thông điệp mới cho người đọc. Tác phẩm nhái là một tác phẩm cải biên (như phim nhái của Chiến tranh các vì sao) Một tác phẩm so sánh phong cách đạo diễn của Alfred Hitchcock và Martin Scorsese cũng là tác phẩm cải biên.
Nhân tố 2 Tác phẩm chỉ chứa đựng sự kiện hoặc sáng tạo ? Sự diễn đạt một sự kiện được xem là bản quyền “mỏng” trừ khi sự diễn đạt rất là sáng tạo. Bản thân các sự kiện không thể có bản quyền vì nó giống như các ý tưởng – có thể khám phá được nhưng không được bảo hộ bản quyền. Thí dụ: Một cơ sở dữ liệu
Nhân tố 3 Liên quan tới cả khối lượng và phần của tác phẩm mà bạn muốn sao chép hoặc sử dụng. Tòa án không quan tâm đến việc bạn chỉ sử dụng 12% của tác phẩm, hoặc 17 trong số 100 bản đồ. Số lượng mà bạn không dùng cũng không bảo vệ bạn – bạn không thể thoát khỏi bị truy cứu trách nhiệm băng cách chứng minh rằng phần bạn không sao chép còn nhiều. Tòa án đặt nặng sự liên quan đến “cốt lõi của tác phẩm” hơn là phần bạn đã lấy hoặc sao chép trong tổng thể. Số lượng có thể ít, nhưng nếu nó là chủ yếu hoặc trọng tâm của tác phẩm, thì bạn không thể sử dụng nó.
Nhân tố 4 Liên quan đến thị trường của tác phẩm có bản quyền Tòa án nỗ lực đánh giá tác động của tác phẩm trên thị trường của tác phẩm có bản quyền, thường là cân nhắc nó cao nhất trong 4 nhân tố. Như lấy 1 track từ một đĩa CD ra thành một tập tin MP 3 trên trang web của bạn sẽ làm cho tác phẩm này có mặt trên toàn thế giới, và sẽ làm giảm mãi lực của bản gốc. Như việc bán bản photo của một cuốn sách rất đắt tiền sẽ làm giảm sức mua cuốn sách ấy tại các nhà sách.
Hình xăm và bản quyền Cơ quan Bản quyền của Mỹ đã ban hành bản quyền đầu tiên cho một hình xăm vào đầu năm 2006. Hãy nhớ là một hình xăm không được bảo hộ tác quyền, nhưng hình dùng để xăm được bảo hộ tác quyền.
Ăn cắp văn với Vi phạm bản quyền Việc phân biệt giữa ăn cắp văn, ý khác với vi phạm bản quyền (Vâng, chúng nó khác nhau ! ) Ăn cắp văn, ý Cái gì bị ảnh hưởng Tác phẩm viết Vi phạm bản quyền Bất ký một tác phẩm nào có quyển tác giả Phân loại Không trung thực về học thuật Vi phạm luật bản quyền Hiệu quả Lừa độc giả tưởng rằng bạn là Phủ nhận phần thưởng về sự người viết ra tác phẩm sáng tạo của người sở hữu bản quyền Tụt hạng; trục xuất; mất bằng Có thể chịu trách nhiệm về việc cấp, mất việc hoặc các mối quan hệ xã hội phá họai, không được quyền sử dụng tác phẩm nữa Làm sao tránh hậu Trả tiển thỏa đáng cho tác giả Xin phép người sở hữu bản quyền quả hoặc nguồn thông tin. để sử dụng tác phẩm Hậu quả
Sự phát minh máy sao chụp
Trước máy sao chụp: máy Rectigraph Vào năm 1906, George Beidler làm ra máy sao chụp hình ảnh đầu tiên. Beidler đặt tên cho máy đó là máy Rectigraph Máy Rectigraph rất lớn và phải cần một căn phòng cho riêng nó. Nó cần hai thứ điện và nuớc. Do đó, người ta chỉ thấy nó ớ những của hàng đặc biệt. Đối thủ cạnh tranh chính với Beidler là Photostat Corporation, công ty này có quan hệ giấy phép và sản xuất với Eastman Kodak
Chester Carlson Cha của Chester là Olof Adolph Carlson Ông ta cưới bà Josephine Hawkins Chester Carlson sinh ra vào ngày 8/2/1906 Olof hay đau yếu vì ông ta bị bệnh lao và viêm khớp cột sống. Olof chết vào năm 1932 (Carlson cố về nhà nhưng không kịp) Chester bị đuổi khỏi Bell Labs vào năm 1933 vì tham gia vào khóa học “kế họach thương mại” với nhiều nhân viên khác của Bell Labs, họ muốn tìm một “bài thuốc chống trầm cảm” (khóa học “kế họach thương mại” này chẳng đi đến đâu)
Ông tìm được việc làm ở Austin & Dix Một năm sau, được ông Austin cho biết là tình hình làm ăn đang xuống, ông chuyển sang văn phòng có bằng sáng chế của P. R. Mallory & Company, người sản xuất bộ phận điện và điện tử. Năm 1934, Chester cưới Elsa von Mallon, nhưng cuộc hôn nhân không hạnh phúc, họ có rất ít điểm chung. Mẹ Elsa cũng cảm thấy con gái mình đã không chọn đúng người và bà ta không giấu diếm điều này. Năm 1936, Chester đăng ký học lớp đêm ở trường Luật New York
Ông học chủ yếu vào những ngày cuối tuần ở Thư viện Công cộng của TP. New York, nơi ông chép bằng tay từng đọan dài từ các cuốn sách luât mà ông ta không có khả năng mua. Chép như vậy làm cho ông bị tê tay, và ngồi hàng giờ tại bàn làm ông đau lưng. Khi tay bi đau vì viết nhiều quá, thỉnh thoảng Chester rất quan tâm đến việc sao chép. Ông tin rằng chế ra một máy chép sẽ giải quyết được các khó khăn của ông vì sẽ không cần chép tay các bài viết và cũng sẽ tạo thêm thu nhập mà cô vợ trẻ của ông và mẹ cô ta yêu cầu.
Vào một ngày của năm 1937, khi ông đang lật một tờ báo khoa học tiếng Đức, ông tìm thấy một bài báo ngắn của một nhà vật lý người Hungary đã làm thí nghiệm về việc chuyển tải và phát triển các hình ảnh – và ông chợt nghĩ ra cách phải làm. Lúc đầu Chester gọi ý tưởng của mình là “electron photography” và sau gọi là “electrophotography” Ông đăng ký bằng sáng chế vào mùa thu năm 1937, và sau đó không lâu thêm một phiên bản mới có cải thiện và mở rộng, công bố vào mùa thu năm 1942.
Sau khi đăng ký bằng sáng chế cho phát minh của mình, ông tiến hành việc chứng minh tính thực dụng của ý tưởng mình bằng việc chụp một bản sao của cái gì đó. Ông phải đương đầu với hai thử thách: (i) sự vụng về của ông; (ii) hoàn cảnh làm việc của ông. Ông có thể mường tượng được sẽ tiến hành thế nào và ông có thể hiểu các chi tiết đều khớp với nhau nhưng ông không thể làm cho nó vận hành được (do vụng về) Ông tiến hành thí nghiệm tại nhà (ông và Elsa đang sống tại nhà cha mẹ của Elsa ở Jackson Heights)
Các cuộc thí nghiệm thỉnh thoảng làm cho cả căn nhà có mùi trứng ung. Điều này làm vợ ông rất phiền lòng và khiến mẹ vợ ông cay đắng than phiền. Mùa thu năm 1938, ông thuê một căn phòng ở tầng hai căn nhà bố mẹ vợ, số 32 -05 đường Thirty-seventh Street ở Astoria, Queens Căn phòng này có khí đốt, cách nhà ông mười lăm phút đi bộ và tiền thuê lại rẻ (ông trả cho mẹ vợ $15/tháng)
Chester tìm một người phụ tá. Ông tìm thấy một mẫu “Tìm việc” trong tạp chí Electronics có vẻ thích hợp Mẫu “Tìm việc” này do một nhà vật lý người Áo , Otto Kornei, đăng. Ông ta vừa nhập cư vào Mỹ và không gặp may trong khi tìm việc làm. Tình hình tài chánh của ông lúc đó không khá và Elsa rất phiền lòng vì nỗi ám ảnh về sao chụp của ông. Kornei bắt đầu làm việc vào ngày 6 tháng 10 và tỏ ra là một trợ thủ đắc lực.
Chỉ cần vài ngày Otto đã làm được nhiều việc hơn Chester làm lóng ngóng cả năm. Kornei cố làm bản sao chụp đấu tiên, “ 10. -22. -1938 ASTORIA” Kornei làm cho Chester sáu tháng, trong thời gian này ông ta đã làm được một số bước tiến đáng kể. Khi hợp đồng lao động kết thúc vào tháng 3 năm 1939, ông ta nói với Chester rằng ông ta đã nhận được việc làm tại Brush Development Company ở Cleveland (chỉ đơn giản là Kornei không thấy được tương lai của electrophotography - sao chụp điện tử)
Kornei và Chester vẫn giữ quan hệ tốt và giữ liên lạc với nhau một thời gian. Ngay trước khi Kornei chuyển đến Cleveland, ông ta và Chester gặp nhau để hủy thoả thuận giữ hai người cho phép ông ta được 10% từ nguồn lợi trong tương lai của sao chụp điện tử. Chester viết thư gửi hơn hai mươi công ty, kể cả IBM, General Electric, RCA, và A. B. Dick, hy vọng rằng một trong những công ty này sẽ quan tậm đến việc phát triển trên lãnh vực thương mại Câu trả lới là “nhiệt tình không quan tâm” dù một số công ty đã mời ông đến để giải trình.
Chester dùng mẫu hàng mà Kornei đã làm cho ông trước khi đi Cleveland để quảng cáo với các công ty. Những không công ty nào bị thuyết phục vì: (i) Carlson nói nhỏ quá; và (ii) buổi trình bày hơi thô thiển và không gây được ấn tượng đối với người nghe.
Justin Frankel Năm 1987, Công ty Thiết kế công trình Fraunhofer Schaltungen của Đức sáng chế ra một tiêu chuẩn nén là mpeg-1 Audio Layer 3, được mọi người biết đến là MP 3 Người Đức cố giải quyết một vấn đề khó: làm sao để phát những chương trình nghe kỹ thuật số khi các tập tin âm thanh có chất lượng CD quá lớn và nặng nề. Justin Frankel “cần một máy nghe tốt hơn” và bắt đầu viết mã 12 giờ/ngày. Ông tung ra Winamp 1. 0 vào tháng 4 năm 1997
Trong một tháng phần mềm của ông được đưa lên trang web, mỗi ngày có khoảng 40, 000 người truy cập. Trong vòng 18 tháng, chương trình Winamp miễn phí của Frankel đã được tải về 15 triệu lần. Ông đề nghị phí đăng ký là $10, và cũng được hưởng lợi từ các phí quảng cáo nữa. Ông lập công ty Nullsoft và bố ông là cố vấn pháp lý. Sau đó Justin bán Nullsoft cho America Online
Sách tham khảo về Bản quyền Man, J. (2002). Gutenberg: How one man remade the world with words. New York: John Wiley. Owen, D. (2004). Copies in seconds: Chester Carlson and the birth of the Xerox machine. New York: Simon & Schuster. Pedley, P. (2007). Digital copyright (2 nd ed. ). London: Facet Publishing. Schamber, L. (1996). What is a document? Rethinking the concept in uneasy times. Journal of the American Society for Information Science, 47(9), 669 671. Todd, E. (2008). Gringas: The laws of the Internet. London: Tottel Publishing. Twitchett, D. (1983). Printing and publishing in medieval China. New York: Frederic C. Beil. UNESCO. (1982). The ABC of copyright. Paris: UNESCO.
Waxer, B. M. , & Baum, M. L. (2007). Copyright on the Internet. Boston: Course Technology.
Bằng sáng chế
Bằng sáng chế ở Hoa kỳ Quốc hội phải có quyền thúc đẩy tiến bộ khoa học và các ngành nghệ thuật hữu dụng, bằng cách bảo đảm thời gian có giới hạn cho tác giả và nhà phát minh được quyền trên các tác phẩm và sự khám phá của mình. Hiến pháp Hoa kỳ
Blotting Out Some Words … Quốc hội phải có quyền thúc đẩy tiến bộ khoa học và các ngành nghệ thuật hữu dụng, bằng cách bảo đảm thời gian có giới hạn cho tác giả và nhà phát minh được quyền trên các tác phẩm và sự khám phá của mình. Hiến pháp Hoa kỳ
Tại sao phải có bằng sáng chế ? Nếu tạo hóa đã tạo cái gì kém hơn các sở hữu riêng khác thì cái đó được gọi là một ý tưởng mà cá nhân có thể sở hữu riêng hoặc giữ cho riêng mình. Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 của Hoa kỳ Thư gửi Isaac Mc. Pherson, 13/8/1813 Luật pháp bang Massachusetts ban hành 17/3/1789 qui định rằng “không có vật sở hữu nào riêng biệt mà con người có thể có được ngoài lao động trí óc của anh ta”.
Abraham Lincoln Suốt cuộc nội chiến, người ủng hộ nổi tiếng nhất của các nhà sáng chế là Abraham Lincoln. Là Tổng thống, Lincoln làm việc tích cực để phát triển điện tín, đường xe lửa, nông nghiệp, pháo binh và lực lượng hải quân. Lincoln cũng nới rộng thời hạn của bằng sáng chế từ 14 năm lên 17 năm. (Choate, 2005, tr. 37)
Hệ thống bằng sáng chế … đổ thêm nhiên liệu quan tâm vào ngọn lử của thiên tài trong việc khám phá và sản xuất ra những đồ vật mới và hữu dụng. Abraham Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Hoa kỳ Bài diễn văn thứ hai về Khám phá và Phát minh Jacksonville, Illinois, 11/2/1859 Linh tinh Abraham Lincoln là Tổng thống duy nhất của Hoa kỳ sở hữu một bằng sáng chế (Bằng sáng chế số 6469: Làm nổi tàu ở những vùng biển nông, nộp 10/5/1849 và được công nhận 22/5/1849)
Linh tinh …: Thomas Alva Edison Người giữ kỷ lục về số bằng sáng chế đăng ký ở USPTO là Thomas Alva Edison Trong suốt cuộc đời mình, ông đã đăng ký 1. 093 bằng sáng chế (1. 084 bằng sáng chế thiết thực và 9 bằng sáng chế thiết kế) nên nhớ là Edison cũng có bằng sáng chế ở nước ngoài nữa đấy! Bằng sáng chế số 223898, Đèn điện (bóng đèn tròn) là bằng sáng chế nổi tiếng nhất của Edison Bằng sáng chế này được cấp ngày 27/1/1880 Xem bằng sáng chế tại: http: //www. ourdocuments. gov/doc. php? flash=true&doc=46
Linh tinh nữa …: Giấy ghi chú Post-It Là một trong những cái đổi mới trong văn phòng được chấp nhận và sử dụng trong bát cứ lúc nào. Có nhiều màu và nhiều cỡ, giấy ghi chú được dán trên tài liệu, màn hình máy tính, cửa số, bàn vẽ. Nó nhắc Giám đốc đi họp và ông chồng phải mua sữa! Bằng sáng chế số. 3, 857, 731 Mảnh giấy phủ Acrylate Microsphere (31/12/1974)
B 8àng sáng chế là gì ? [1] Bằng sáng chế là sự độc quyền hạn chế trao cho nhà phát minh để đổi lấy việc “có thể” tiết lộ hoàn toàn một phát minh. Thế nào là sự độc quyền hạn chế ? Thế nào là phát minh ? Thế nào là “có thể” tiết lộ ?
Bằng sáng chế là gì ? [2] … được trao cho người có bằng sáng chế … quyền được không cho người khác làm, sử dụng, cho bán, bán phát minh đó trên tòan lãnh thổ Hoa kỳ… trong thời hạn kể từ ngày ban hành bằng sáng chế đến 20 năm sau kể từ ngày nhận đơn … Tùy theo cách nhìn của mình mà một bằng sáng chế có thể được xem là: một tài liệu kỹ thuật, hoặc một tài liệu pháp lý, hoặc một tài sản thương mại.
Ba tính chất Theo hợp đồng: giữa chính phủ và nhà phát minh; quyền được không cho phép trong một thời hạn nhất định để đổi lại việc được tiết lộ phát minh. Quyền sở hữu: có thể bán, cho thuê, cấp phép như bất kỳ vật sở hữu nào Độc quyền: giới hạn thời gian (20 năm); negative in character (exclusionary) – bằng sáng chế không cho phép thực hiện sáng chế đó mà chỉ được không cho phép người khác thực hiện nó. Cùng phải nhớ tính chất lãnh thổ của bằng sáng chế.
Ba yêu cầu để có được bằng sáng chế Tính mới lạ Phải mới (khơng nhất thiết phải mới hoàn toàn, nhiều bằng sáng chế thực chất chỉ là sự hoàn thiện của những bằng sáng chế cũ) Cho phép có những cải thiện đáng kể Không châp nhận: thay đổi kích cỡ, hình dáng, chất liệu, thay thế hoặc thay đổi cấu hình các thành phần. Ghi chú Trong tác phẩm Aluminum, the Magic Metal đăng trên National Geographic vào tháng 8/1978, Canby nói đến cây đàn violon bằng nhôm (tr. 200). Người làm ra cây đàn violon này sẽ không được cấp bằng sáng chế (nếu ông ta có đăng ký) vì chỉ có sự khác biệt duy nhất về chất liệu cấu thành (từ gỗ sang nhôm)
Công dụng Một mức độ hữu dụng nào đó (với bất kỳ mục đích nào) Thường đây là yêu cầu có thể thoả mãn dễ dàng nhất Không hiển nhiên cho tất cả những người “có năng khiếu nghệ thuật” (một người rành về chủ đề are of the patent) Thường đặt ra nhiều vấn đề nhất vì khó áp dụng Sách hướng dẫn về công dụng đã được siết chặt vào tháng 1/2001
Prior Art Bất kỳ công nghệ nào ra đời trước khi một bằng sang chế nộp đơn mà có vẻ là một phần của công nghệ đó hoặc công nghệ tương đương (nhu dao và dao bỏ túi) Nó bao gồm: Bất kỳ một sự mô tả hay thảo luận của các phần tử đầu tiên và xác định của một phát minh Bất kỳ một sự mô tả hay thảo luận về phát minh trên một ấn phẩm Bất kỳ một bằng sáng chế liên quan nào của Mỹ hay nước ngoài đã được cấp. Bất kỳ một bằng sáng chế liên quan nào đã đăng ký và đang được xét.
Các loại bằng sáng chế Bằng sáng chế thiết thực có thể cấp cho bất cứ ai sáng chế ra một tiến trình, máy móc, vật phẩm mới, hữu dụng và không hiên nào, hoặc sự cấu thành của một vật, hoặc bất kỳ cải thiện mới và thiết thực của một vật. (giây kéo mới/bắp chuyển đổi gen). Bảo vệ chức năng. . Phổ biến nhất có hơn 7. 000 bằng sáng chế thiết thực). G Bằng sáng chế thiết kế có thể cấp cho bất cứ ai sáng chế ra một thiết kế mới, độc đáo và có tính chất trang trí cho một sản phẩm. Bảo vệ dáng vẻ bên ngoài. G
Bằng sáng chế thực vật có thể cấp cho bất cứ ai sáng chế hoặc phát hiện VÀ sản xuất vô tính bất kỳ một loại thực vật mới nào (Những loại không nhân giống bằng hạt mà sắp lớp, ghép chồi, chiết cành, và cắt rễ. ) G
Cấu trúc của một bằng sáng chế Tên của phát minh Tham chiếu đến các ứng dụng có liên quan Điều cơ bản về phát minh Lĩnh vực của phát minh Mô tả về prior art (nghệ thuật liên quan) Tóm tắt về phát minh Bản vẽ sơ tả Mô tả chi tiết về phát minh Khiếu kiện (Giới hạn pháp lý) / Tóm tắt về việc tiết lộ Xem một số bằng sáng chế của USPTO
Mã INID Internationally agreed Number for the Identification of Data (Số thống nhất Quốc tế để Nhận dạng Dữ liệu) Một hệ thống chuẩn để nhận dạng dữ liệu Hữu dụng để hiểu các bằng sáng chế nước ngoài. Xem thí dụ Tìm mã IND trên bằng sáng chế
Hệ thống phân loại bằng sáng chế ở Hoa kỳ Hơn 7 triệu người đã đăng ký với USPTO Họ được phân loại theo hệ thống Phân loại Bằng sáng chế của Hoa kỳ (http: //www. uspto. gov/go/classification/) Có khoảng 400 lớp và khoảng 160. 000 lớp phụ trong USPC Một bằng sáng chế có thể tham chiếu ở nhiều lớp và lớp phụ. USPC rất năng động và các lớp luôn thay đổi theo phát triển công nghệ (“buggies” biến mất và “công nghệ sinh học” xuất hiện)
Thông tin về USPC có trên nhiều tập tin PDF: Tổng quan về USPC (2007) [link] Sổ tay Phân loại (2005) [link] Danh sách số lớp [link] Ký hiệu của USPC đơn giản: “ 570/206” nghĩa là lớp 570, lớp phụ 206 “ 570/206” được gọi là “mã số phân loại” hoặc đơn giản hơn “số phân loại”
Hệ thống phân loaại bằng sáng chế quốc tế (IPC 8: 1/1/2006; IPC 7: 3/1/2000) Có thể tìm trên http: //www. wipo. int/classifications/ipc 8/ Cung cấp bởi Thoả ước Strasbourg (1971), có hiệu lực từ ngày 7/10/1975 Cung cấp một số phân loại chung (thống nhất trên thế giới) cho các bằng sáng chế phát minh. Hệ thống phân loại theo cấp phần (A H), lớp phụ và nhóm (nhóm chính và nhóm phụ). Lần xuất bản thứ 6 của IPC đưa ra 8 phần, 118 lớp, 624 lớp phụ và hơn 67. 000 nhóm
Tài liệu Hướng dẫn Hệ thống Phân loại Bằng sáng chế Quốc tế (xuất bản lần thứ 8, 2006) đã có trên mạng ở link 1 hoặc link 2
Những công dụng khác của IPC Sử dụng như: Công cụ để sắp xếp thứ tự các tài liệu về bằng sáng chế để có thể dễ dàng truy cập đến các thông tin công nghệ và pháp lý chứa đựng trong đó; Cơ sở để phổ biến các thông tin có chọn lọc cho tất cả những người sử dụng thông tin về bằng sáng chế; Công cụ để điều tra về hiện trạng của một lĩnh vực công nghệ nào đó, Cơ sở để chuẩn bị các thống kê về sở hữu công nghiệp, việc này sẽ cho phép điều tra về sự phát triển công nghệ trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tìm kiếm bằng sáng chế Bằng sáng chế được tìm theo 1 trong 5 cách Mỗi cách tìm đòi hỏi người tìm phải tiếp cận cách tìm hơi khác nhau, tùy theo mục đích của việc tìm kiếm: : Tìm kiếm về bằng sáng chế Tìm kiếm về vi phạm Tìm kiếm về hiệu lực Tìm kiếm về chuyển nhượng Tìm kiếm về phí bảo hành
Tìm kiếm khả năng cấp bằng sáng chế Mục đích là để biết được cái gì đã được cấp băng sáng chế về mặt khái niệm. Một tìm kiếm về bằng sáng chế sẽ không xác định prior art Nhà phát minh mong muốn câu trả lời là không (không có bằng sáng chế nào về một phát minh tương tự được tìm ra) Nó được tiến hành trước khi nộp hồ sơ để quyết định có nộp hồ sơ hay không (nộp hồ sơ rất tốn tiền) Thường thì tìm kiếm để biết được tình trạng của prior art về lĩnh vực quan tâm chung
Tìm kiếm vi phạm Mục tiêu là xác định xem việc khiếu kiện có vi phạm bằng sáng chế chưa hết hạn nào không. Tìm kiếm về vi phạm nhằm nhận dạng có sự trùng lắp nào về khiếu kiện không Chỉ tìm kiếm trong những bằng sáng chế còn hiệu lực. Việc tìm kiếm cũng nhằm xem có hoạt động nào sẽ vi phạm sự khiếu kiện về bằng sáng chế của ai không
Tìm kiếm thời gian hiệu lực Mục tiêu là xác định xem khiếu kiện có hiệu lực hay không (nó cho biết đó là phát minh mới hoặc một phát minh thiếu tính mới lạ) Xem lại các bằng sáng chế trong và ngoài nước trong phần tìm kiếm và trong phần văn học để xác định khái niệm đã được tiết lộ ra chưa. Chiếm phần lớn thời gian
Tìm kiếm người được cấp bằng Mục tiêu là xác định người sở hữu hiện tại của bằng sáng chế (nên nhớ là bằng sáng chế có thể mua bán) Tất cả những chuyển nhượng về quyền sở hữu phải được đăng ký với PTO Lưu ý đến việc lầm lẫn thời gian (phải nhiều mất thì giờ để việc chuyển nhượng được ghi nhận)
Tìm kiếm phí bảo trì Mục tiêu là xem tiền lệ phí đã được đóng chưa và thời hạn hiệu lực của bằng sáng chế Tại USPTO, phải đóng tiển vào năm thứ 4, thứ 8 và thứ 12 để cho bằng sáng chế còn hiệu lực
USPTO Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu của Hoa kỳ Một bộ phận của Bộ Thương mại Hoa kỳ Trụ sở ở Alexandria, Virginia (gần Washington D. C. ) Do Quốc hội thành lập để thay mặt chính quyền liên bang cấp phép cho bẳng sáng chế và thương hiệu. Xem xét các đơn xin đăng ký bằng sáng chế và thương hiệu Xét xem người nộp đơn có xứng đáng nhận bằng sáng chế hoặc thưong hiệu không. Lưu giữ hồ sơ về các bằng sáng chế và thương hiệu đã cấp.
Tạo lập một hệ thống hoạt động về bằng sáng chế và bản quyền là việc ưu tiên hàng đầu đối với George Washington Trong thông điệp đầu tiên của ông vào ngày 8/1/1790, ông yêu cầu Quốc hội thông qua việc xây dựng luật để khuyến khích đem về nhiều phát minh của nước ngoài và đẩy mạnh việc sáng tạo trong nước. Quốc hội hành động tức thì, và Tổng thống ký ngay Đạo luật Bằng sáng chế đầu tiên vào ngày 10/4/1790 và Đạo luật Bản quyền đầu tiên không đầy 2 tháng sau đó, vào ngày 31/5/1790
Đạo luật Bản quyền làm cho việc ban hành bằng sáng chế có tầm mức quan trọng nhất đó là chức năng quản lý bởi Tổng thống và 3 cán bộ cao cấp trong chính phủ. Lúc ấy không có văn phòng bằng sáng chế Một kiến nghị được gởi trực tiếp cho Bộ trưởng Ngoại giao Thomas Jefferson Sau đó, Bộ trưởng Chiến tranh Henry Knox và Tổng Chưởng lý Edmund Randolph xem xét Ba người này họp thành một ủy ban bằng sáng chế
Họ đặt ra những đềiu lệ khắt khe để lấy bằng sáng chế, và mỗi ngày thứ bảy cuối cùng của tháng, họ tập hợp lại để xem xét đơn. Nếu hai trong ba người chấp thuận, bằng sáng chế được soạn thảo gửi cho Tổng thống Washington ký và sau đó chuyển cho Jefferson, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao, ký và đưa đi đóng dấu của Hiệp Chủng quốc Hoa ký. Sau đó người có bằng sáng chế sẽ được một thời gian mười bốn năm không cho phép người khác sử dụng phát minh này.
Tổng chi phí khoảng $5 Ngay sau đó, công việc trở nên quá tải năm 1793, chỉ có 53 bằng sáng chế được phát hành và còn 114 đơn chưa xét duyệt. Cuối cùng, Quốc hội thông qua Đạo luật Bằng sáng chế năm 1793 Bấy giờ, Quốc hội cho phép nhà phát minh đăng ký phát minh của mình cho Bộ Ngoại giao mà không cần xem xét. Thủ tục trở nên thoáng hơn và từ năm 1793 đến năm 1836, khi luật bản quyền được thay đổi thì có hơn 9, 500 bằng sáng chế được phát hành
Hỗn độn bao trùm và thường thì một ý tưởng được cấp bằng sáng chế nhiều lần !
IPOS Văn phòng Quyền Sở hữu Trí tuệ của Singapore Cơ quan trực thuộc Bộ Luật pháp Chịu trách nhiệm quản lý Đạo luật Thương hiệu (Cap. 332, 1999 Edn) và Đạo luật Bằng sáng chế (Cap. 221) Nhận đơn xin cấp bằng sáng chế quốc tế theo Hiệp ước Hợp tác Bằng sáng chế. Chịu trách nhiệm tiến hành xem xét đơn và xem xét hậu qủa các đơn xin cấp bằng này. Đồng thời cũng giải quyết những công việc tiếp theo như gia hạn hoặc phục chế. Nghe và xét xử các vụ vi phạm và thu hồi bằng sáng chế, và đối chiếu và điều chỉnh thương hiệu.
Bằng sáng chế điện tử http: //www. epatents. gov. sg/ Cung cấp hạ tầng cơ sở về các dịch vụ thông tin một trạm để chuyển giao thông tin cho công chúng qua Internet. Cung cấp việc chi trả điện tử trên Internet cho những dịch vụ đó. Cho đến nay, làm hồ sơ và tìm kiếm tr 6 en mạng được cho phép. Đăng ký miễn phí; chỉ phải trả tiển cho một số dịch vụ. Tải về “The Patents Journal: Singapore” dạng PDF từ trang web (1 -3/2008; lưu ý: tập tin lớn)
INPADOC = Trung tâm Tư liệu về Bằng sáng chế Quốc tế Chứa đựng dữ liệu thư mục và gia đình về bằng sáng chế và các mẫu mã thiết thực của 65 cơ quan ban hành bằng sáng chế kể cả Văn phòng Bằng Sáng chế châu u và Cơ quan Sở hữu Trí tuệ toàn cầu.
Tìm kiếm bằng sáng chế trên Internet Mỹ: http: //www. uspto. gov/ Singapore: http: //www. epatents. gov. sg/ Delphion: http: //www. delphion. com/ Canada: http: //cipo. gc. ca/ Anh: http: //www. patent. gov. uk/ Nhật: http: //www. jpo. go. jp/ Một số link có ích: Hiệp hội các Doanh nghiệp Luật Bằng sáng chế: http: //www. aplf. org/
Recap: bằng sáng chế - Hai mục đích Để bảo vệ quyền lợi của nhà phát minh Quảng bá mục đích xã hội: nhằm cải thiện tiến bộ công nghệ (sự đổi mới) Luật bằng sáng chế nhắm vào mục đích công cộng là đẩy mạnh tiến bộ công nghệ, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đầu tư đào tạo, đổi mới, sức mạnh tự nhiên, và tính cạnh tranh quốc tế. Hilton Davis v. Warner-Jenkinson
Các vấn đề … Số lượng Bằng sáng chế số 5, 373, 560 ban hành cho Roger Schlafly vào ngày 13/12/1994 cho hai số nguyên tố lớn. Hình thái sống Bằng sáng chế vi khuẩn ăn dầu Burkholderia cepacia được trao cho Ananda Chakrabarty vào năm 1980 Sinh vật chuyển đổi gen Bbẳng sáng chế [onco]chuột Harvard (chuột chuyển đổi gen) được ban hành năm 1988 ở Mỹ, năm 1992 ở châu u, năm 1994 ở Nhật và năm 2000 ở Canada Qui trình giải phẫu
Bằng sáng chế về Phương pháp Kinh doanh (705, 707 & 709) #5, 960, 411: bằng sáng chế Amazon. com’s “ 1 -Click” (Amazon. com đối chọi với Barnes. And. Noble. com) #5, 794, 207: Priceline. com’s name your price patent (Priceline. com đối chọi với Microsoft) Bằng sáng chế của Thị trường mở “xe mua hàng trực tuyến” Bằng sáng chế phần mềm (364 & 395 40, 000 patents) #5, 016, 009 & #4, 701, 745 Bằng sáng chế về nén dữ liệu của Stac đối chọi với Microsoft Chương trình của Stac bị đưa vào MS-DOS 6. 0 của Microsoft một cách không hơp pháp
Các xu hướng của bằng sáng chế Bằng sáng chế phần mềm Overlaps Bằng sáng chế Phương pháp Kinh doanh Bằng sáng chế cho những hình thái sống mới Overlaps Bằng sáng chế về chuỗi và gen của con người Có bằng sáng chế nhỏ hơn cho nền kinh tế mới?
Bằng sáng chế phần mềm Bằng sáng chế không thể cấp cho: Những chân lý khoa học Những biểu thức toán của chân lý khoa học Trong những năm 1970, sẽ không được cấp bằng sáng chế nếu phát minh có dùng tính toán bằng máy tính (đó là những thuật toán, chứ không phải quy trình hay máy móc) Năm 1996, USPTO ban hành “Hướng dẫn Xem xét các Phát minh có liên quán đến Máy tính” để giúp những người xét cấp bằng sáng chế sử dụng phần cứng và phần mềm liên quan đến phát minh.
Hiện nay rất nhiều Phần lớn các bằng sáng chế phần mềm được xếp vào lớp 364 và lớp 395 Amazon: 5960411 (1 -Click) & 6029141 Bằng sáng chế về phần mềm có thể: Ngăn người khác sử dụng không phép một số thuật toán (như thuật toán nén hình ảng dạng GIF)
Ngăn người khác sáng tạo ra những chương trình phần mềm thực hiện chức năng (như bằng sáng chế rút tiển của Compton ngăn người khác thực hiện một số loại câu hỏi về cơ sở dữ liệu đa phương tiện) Những vụ kiện chính: Stac Electronics kiện Microsoft Corp. Phạt Microsoft $120 triệu năm 1996 Amazon kiện Barnes & Noble (1 -Click) Priceline. com kiện Microsoft (name-your-own-price)
Vấn đề chính của bằng sáng chế phần mềm Tìm phần mềm prior art là một công việc khó. Đối với các loại phát minh khác, người xét cấp bằng sáng chế có thể xem lại các bằng sáng chế đã cấp trước đó. NHƯNG phần lớn những phát minh về phần mềm không xin cấp bằng sáng chế. Phần lớn công nghệ phần mềm trước nay vẫn được xem là bí mật kinh doanh hoặc được công bố trong những ấn phẩm không có bằng sáng chế. Những người xét cấp bằng sáng chế không truy cập được vào những công nghệ này khi đánh gía việc có thể cấp bằng sáng chế hay không cho những phát minh có liên quan đến máy tính đề cập đến trong đơn xin cấp bằng sáng chế.
Người cấp bằng sáng chế nào chỉ dựa trên những bằng sáng chế được cấp trước đây dành cho prior art sẽ bỏ qua phần lớn những phần mềm đã có trước đây. KẾT QUẢ: “những bằng sáng chế tồi” là những bằng sáng chế có thể đã không được cấp nếu người cấp băng sáng chế tìm ra được tất cả prior art trước đó. Hai sự phát triển từ vấn đề này: Liên Minh vì Quyền tự do Thảo chương dành cho việc hủy bỏ những bằng sáng chế dành cho những công nghệ liên quan đến phần mềm – lý do là phần mềm này khác biệt.
Bernard Galler (Đại học Michigan) thành lập Viện Bằng sáng chế Phần mềm - Software Patent Institute (SPI), nhằm đem lại nhiều phần mềm prior art cho những người cấp bằng sáng chế để xem xét. Lập ra và đưa ra sử dụng cho USPTO và công chúng và cơ sở dữ liệu về Công nghệ Phần mềm (miễn phí), đặc biệt là những kỹ thuật không có bằng sáng chế. Cơ sở dữ liệu chứa đựng “văn hóa dân gian” của ngành công nghiệp máy tính.
Bằng Sáng chế phương pháp kinh doanh Những phương pháp kinh doanh, như “frequent-flier miles”, “order upsizing”, trong quá khứ được xem là ý tưởng và do đó không có bằng sáng chế. Dù sao thì nền kinh tế mới có những công ty công nghệ mà tài sản đầu tiên và duy nhất là ý tưởng của họ Bảo vệ những ý tưởng này là điều cần thiết sống còn đối với họ. Cấp bằng sáng chế cho những giá trị vô hình, như cách thức làm ra đồ vật, để phòng việc những người cạnh tranh tiến hành kinh doanh giống mình [và làm như vậy là dựng một rào cản vào thị trường đối với những người có thể cạnh tranh với mình]
1980: Tòa án Tối cao Hoa kỳ cho rằng “bất kỳ cái gì dưới ánh mặt trời và được làm ra bởi con người” đều có thể cấp bằng sáng chế. 1998: cánh cửa được mở khi USPTO cấp cho Signature Financial Group một bằng sáng chế về một phương pháp quản lý quỹ hỗ trợ. Hiện nay: Đây là loại bằng sáng chế được phát triển nhanh nhất.
Bằng sáng chế cho nững dạng sống mời Hiện nay kỹ thuật về sửa đổi gen cho phép đưa những đặc tính mới lạ vào cơ thể sống. Chuột Harvard (Chuột Onco): là con chuột có gen không bị ung thư. Vi sinh vật có thể dọn dẹp dầu tràn. Đưa hóoc môn kích thích tăng trưởng vào trong heo để chúng chóng lớn. Vấn đề đạo đức ? “Con người đùa giỡn với Thượng đế? ” largely unresolved!
Bằng sáng chế: những sự khác nhau trên thế giới Có nhiều nỗ lực để điều chỉnh luật bằng sáng chế và áp dụng trên thế giới. Dù sao cũng còn nhiều khác biệt: Công bố trước khi nộp hồ sơ với công bố sau khi nộp hồ sơ. Ngày tháng áp dụng bằng sáng chế (nộp hồ sơ đầu tiên) với ngày phát minh (phát minh đầu tiên) Phân biệt chỉ là phát minh với phát minh + khám phá
Nhóm những người sử dụng thông tin về bằng sáng chế Cơ quan phi lợi nhuận quốc tế của những người có quan tâm đến thông tin về bằng sáng chế về mặt chuyên nghiệp, khoa học hay kỹ thuật Nhằm mục đích: Khuyến khích việc phát triển tìm kiếm thông tin về bằng sáng chế và hệ thống phân tích Phát triển hơn nữa việc tìm kiếm bằng sáng chế của các thành viên và các kỹ năng về phân tích, và Có công nhận thích đáng cho các thành viên xuất sắc trong lãnh vực này Cải thiện việc tìm kiếm, phân tích và phân phát thông tin về bằng sáng chế. Bộ phận vả Bản tin “Knowledge Base” tuyệt vời
Thống kê của UPSTO
10 cơ quan hàng đầu
So sánh với Creative “Khoảng một trong ba nhân viên của văn phòng Creative’s Singapore là một kỹ sư đang nghiên cứu. Công ty có khoảng 150 bằng sáng chế trên toàn thế giới. ” Radha Basu , Computer Times 18 Sept 2002
Câu chuyện bằng sáng chế của Selden
George Selden là một luật sự lão luyện về bằng sáng chế (trước đây ông là luật sư về bằng sáng chế hàng đầu của George Eastman) và là một nhà sáng chế nghiệp dư. Selden sáng chế một chiếc xe váo tháng 5/1878, nhưng không làm nó chạy lâu hơn 5 phút. Ông nộp đơn xin bằng sáng chế vào mùa xuân 1879 Lúc đó, một nhà sáng chế được phép có 2 năm để hoàn thiện tác phẩm của mình một cách bí mật hoàn toàn. Selden sử dụng chiêu “khất lần” đến 16 năm rưỡi, bằng cách liên tục xin bổ sung và tiếp tục.
Những bổ sung của ông là một phần của những tiến bộ do người khác làm ra sau này trong công nghệ động cơ Selden sắp đặt thời gian cho lần nhận đơn cuối cùng của bằng sáng chế của ông (Số 549, 160) đúng lúc xăng trổ nên phổ biến 5/11/1895 Công ty xe điện (William Whitney và Đại tá Albert Pope) mua bằng sáng chế vào ngày 4/11/1899 Họ dùng nó để đòi tiền bản quyền trên mỗi chiếc xe chạy bằng xăng sản xuất ở Mỹ, và Selden lại đòi $15 cho mỗi chiếc xe sản xuất ra.
Kết quả là sự liên minh giữa 10 nhà sản xuất xe hơi để sử dụng bằng sáng chế và kiểm soát sự tham gia vào công nghiệp xe hơi (rào cản cho việc tham gia được lập ra) trong suốt thời gian bằng sáng chế có hiệu lực (đến tháng 11/1912) Họ lập ra Liên hiệp các Nhà sản xuất Xe hơi có Bằng sáng chế (ALAM) vào tháng 3/1903 Đây là thời điểm không thích hợp cho Henry Ford khi Công ty Động cơ Motor được thành lập ngày 16/6/1903 Các nhà sản xuất xe hơi có giấy phép của bằng sáng chế phải trả 1, 25% tiển bản quyền trên mỗi chiếc xe bàn được.
Mục đích của bằng sáng chế là làm cho những nhà sản xuất xe hơi nhỏ phá sản Ford tỏ ra nganh ngạnh và tiếp tục sản xuất xe hơi. ALAM dán nhãn bằng đồng lên tất cả xe của ALAM và mướn thám tử theo dõi các xe đậu trong bãi. Các tranh cãi bắt đầu tại Tòa án quận New York vào ngày 28/5/1909 Một cuộc đua xuyên lục địa được tổ chức, nhưng phía Selden không xuất hiện.
Vào ngày 15/9/1909, Selden bi phát hiện có được độc quyền khi ông KHÔNG sáng chế những bộ phận làm thành chiếc xe của ông mà chỉ là ngứơi sáng chế ra cái tổng thể. William Crapo Durant (của General Motors) chịu thua và trả tiền bản quyền khoảng $1 triệu Những nhà sản xuất xe hơi không có bằng sáng chế đòi hỏi trở thành hội viên của ALAM Ford vẫn giữ vững lập trường và từ chối gia nhập ALAM Việc chống án bắt đầu vào ngày 22/11/ 1910
Lần này, phán quyết thuận lợi cho Ford Chánh án Noyes viết rằng bằng sáng chế của Selden’s không góp phần gì vào giá trị xã hội và bằng sáng chế năm 1879 không bao hàm một kết cấu mới nào cả Ford được tán thưởng vì sự can đảm và kiên cường trong vụ án này, trong khi tất cả những công ty khác thi cúi đầu trước những đòi hỏi của ALAM
Bằng sáng chế GIF của Unisys sở hữu bằng sáng chế về quá trình nén các tập tin dạng GIF Năm 1994, Unisys quyết định bắt đấu thu tiền bản quyền của những người sử dụng tập tin dạng GIF Việc này dẫn đến sự phản đối từ những người sử dụng vì họ cảm thấy Unisys làm như vậy là không công bằng. Sau đó, Unisys định thu $5, 000 cua những người sở hữu trang web nếu họ sử dụng một hay nhiều hình ảnh dạng GIF Những người sử dụng bắt đầu dùng dạng tập tin Đồ họa Mạng Xách tay (PNG), được tạo ra để đối đầu với sự thất bại lố bịch của bằng sáng chế Unisys.
Bằng sáng chế `906 của Eolas Năm 2003, Microsoft phải trả $520. 6 triệu vì bị cáo buộc đã có vi phạm trong việc sử dụng bằng sáng chế số 5, 838, 906 của Đại học California, Đai học này đã lập Công ty Eolas để quản lý bản quyền (cộng với lãi xuất, số tiền này lên đến $565. 9 triệu) Bằng sáng chế này bao gồm công nghệ mà những người lướt web sử dụng để vào ngay applet hay plug-in để thấy được nội dung bên trong, như hoạt hinh Flash trong một tài liệu siêu phương tiện. Khi Eolas thắng kiện, Consortium World Wide Web (W 3 c) yêu cầu xem xét lại băng sáng chế.
W 3 c đưa bằng chứng rằng bằng sáng chế của Eolas dựa trên prior art, và như vậy thì phải trả ngược trở lại (Giám đốc W 3 C, Tim Bernes-Lee đã tự viết bức thư này xem) Nếu cứ làm nổi bật sự kiện để củng cố bằng sáng chế này, sẽ dẫn đến thiệt hại đáng kể về kinh tế và kỹ thuật trong hoạt động của World Wide Web Ngày 27/9/2005, USPTO xem xét lại và xác định lại là bằng sáng chế thuộc quyền sở hữu của Đại học California và dành riêng bản quyển cho Eolas Technologies
Bằng sáng chế Cipro Lo sợ về bệnh than (nguy cơ của khủng bố sinh học), chính quyền Bush đe dọa thu hồi bằng phát minh ra ciprofloxacin (Cipro) của Bayer nếu không giảm giá xuống cón một nửa là 95¢ Chính phủ Canada làm như vậy và đặt một triệu vỉ thuốc kiều gen ở Công ty Canada là Apotex Inc. Vài ngày sau đó, chính phủ Canada thay đổi ý định Họ công bố bãi bỏ hợp đồng với Apotex và như vậy thì công ty phải được bồi thường
Sách tham khảo về bằng sáng chế Burlingame, R. (1955). Henry Ford: A great life in brief. New York: Alfred A. Knopf. Canby, T. Y. (1978). Aluminum, the magic metal. National Geographic, 154(2), 186 211. Choate, P. (2005). Hot property: The stealing of ideas in an age of globalization. New York: Alfred A. Knopf. Evans, H. (2004). They made America. New York: Little, Brown and Company. (p. 40 48) Garfinkel, S. L. , Stallman, R. M. , & Kapor, M. (1991). Why patents are bad for software. Issues in Science and Technology, 50 55. Gandal, N. (2002). A first look at Internet Business Methods patents, Science, Technology and the Economy Program (Working Papers Series STE -WP-12). Technion City, Israel: Samuel Neaman Institute.
Gleick, J. (2000). Patently Absurd. [link] Gordon, T. T. , & Cookfair, A. S. (2000). Patent fundamentals for scientists and engineers (2 nd ed. ). Boca Raton, FL: Lewis Publishers. Ikenson, B. (2004). Patents: Ingenious inventions. New York: Black Dog & Leventhal Publishers. Jefferson, T. (1813). Letter to Isaac Mc. Pherson, 13 August 1813. [link] League for Programming Freedom. (1991). Against Software Patents. [link] Sandonato, M. P. , Valdivia, A. , & Grodin, A. (2002). Software and Business -Method Patents: A decade in review. The Patent Journal.


